MẮC DỊCH
Quế Đố
Tôi hay tẩn mẩn “nhặt sạn” trên các báo để tiêu khiển. Từ ngữ “nhặt sạn”, nếu tôi nhớ không lầm, được nhóm Tự Lực Văn Đoàn dùng cho một mục riêng trên báo Phong Hóa hay Ngày Nay. Chủ bút báo Ngày Nay là Thạch Lam (Nguyễn Tường Vinh: 1910-1942), em Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) và Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), trong loạt bài bút ký “Hà Nội băm sáu phố phường” nxb Đời Nay in thành sách năm 1943, đã “nhặt sạn” trên các bảng hiệu của Hà Nội:
Nếu một ngày kia chúng ta thấy đề: X. Tailleur, prix, soigne, trvail impeceable, coupe modérée, thì cũng chẳng nên ngạc nhiên tý nào. Nhưng hòn ngọc đẹp nhất có lẽ phải dành riêng cho hiệu này ở phố Hàng Buồm: L.S. photographe, marchande de Chinoiserie.
Ấy là mới dạo qua một vài phố đông đúc, chúng ta đã được đọc nhiều câu chữ Pháp lạ lùng như thế rồi. Ở các hang cùng ngõ hẻm, đối với người tò mò, hẳn còn tìm thấy nhiều cách áp dụng chữ Pháp một cách thần tình hơn nữa.
Nhưng ngẫm kỹ ra thì cũng chẳng nên lấy làm lạ, vì ở một xứ có tờ báo (nghĩa là do hạng trí thức viết), dịch Hôtel de ville là khách sạn của thành phố và Stars à Hollywood là dân tộc Star ở Mỹ châu, thì các ông chủ hiệu trên kia kể còn là giỏi nhiều.
Mà, có phải không, tờ bao Phụ nữ tân văn ở trong Nam đã treo biển “Le Journal des Dames”, và tờ Phụ nữ thời đàm ở ngoài Bắc, “La première organe de la femme Annamite”?
Đấy là chuyện bộ phận đàn bà ngày xưa, nếu còn các cụ cũng phải đến trên 100 tuổi. Nay cũng chuyện “ấy”, thời sự hơn, xin kể như sau.
Tại Hội Nghị các Nhà văn vì Hòa Bình do Văn Bút Quốc Tế tổ chức tại Slovenia vào tháng 3.2008, Sơn Tùng, chủ tịch Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, đọc bài tham luận công khai ca tụng Hồ Chí Minh là lãnh tụ giải phóng Dân Tộc Việt Nam khỏi ách đế quốc thực dân Pháp, ông Thiện Trần có thư phản đối gửi nhiều nhân sĩ, trong số ấy có bác sĩ Tôn Thất Sơn. Bác sĩ Sơn phúc đáp, vạch ra 7 tội của Sơn Tùng, lý thú nhất là tội thứ 7: “Ông ST là tay viết thường xuyên cho báo của NHN [Nguyễn Hữu Nghĩa], nâng bi vợ NHN, ra tay phá hoại tổ chức VBVNHN, ca ngợi tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh. Không những thế, Anh ta làm mất mặt người văn nghệ sĩ VN hải ngoại trước mặt BCH/VBQT“. Đọc xong, tôi “théc méc”, không biết NHN là ai nhưng vợ ông phải là một phụ nữ đặc biệt vì có “bi” để cho ST nâng. Tôi không dám “đánh trống qua cửa nhà sấm”, có ý kiến với một bác sĩ (Tôn Thất Sơn) về vấn đề đàn bà có “bi” hay không, và nếu có thì có mấy bi. Đây là một vấn đề thuộc lãnh vực cơ thể học mà kiến thức của tôi, nói ra xin đừng ai cười, rất hạn chế.
Nhân nói đến cơ thể học, lại nhớ hồi ở Khám Chí Hòa, chung phòng với ba vị linh mục, trong số ấy có một vị rất khả kính trước đã du học ở Bỉ. Chắng biết làm gì cho hết ngày, chúng tôi thi nhau kể chuyện tiếu lâm. Để đáp lễ một chuyện tôi kể, “thanh mà tục, tục mà thanh”, ngài kể một chuyện, tóm tắt như sau:
Một vị giám mục ngoại quốc đến chăn đàn chiên Bỉ rất được mến phục, sau đổi đi một địa phận ở nước khác. Một hôm ngài quay về thăm Bỉ, giáo dân tụ tập rất đông để đón ngài. Ngài đăng đàn diễn thuyết, nói dù ở xa nhưng vẫn nhớ Bỉ, “La Belgique est toujours à mon derrière” (Bỉ luôn luôn ở sau đít tôi). Tiếng Tây nó rắc rối lắm, thế mới khổ. Để biện hộ cho sơ hở trong việc “phát ngôn bừa bãi” của ngài, xin mượn lời của Du Hạo Mẫn:
Về phong cách nghệ thuật, luận thuyết “đắc ý vong ngôn” của Đạo gia, trải qua sự phát huy của các nhà huyền học đời Ngụy, Tấn lại trở thành luận thuyết “ngôn bất tận ý”, một vài nhà phê bình văn nghệ thời ấy đều có khuynh hướng thiên về lý luận này, như trong Văn phú của Lục Cơ có nói: “Hằng hoạn ý bất xưng vật, văn bất đãi ý” (Thường lo ý không nêu được sự việc, lời văn không theo kịp ý). “Ngôn bất tận ý” trong lĩnh vực lý luận văn học lại biến chuyển thành “ý tại ngôn ngoại”. Chương Ẩn tú trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đề xuất quan điểm này trước hết. Quan điểm này trải qua sự phát huy của những người thời Đường, như Tư Không Đồ với “vận ngoại chi trí”, “vị ngoại chi chỉ” (Đáp Lý sinh luận thi thư), đến đời Tống thì hầu như trở thành một tiêu chuẩn nghệ thuật cơ bản. Trong Lục nhất thi thoại của Âu Dương Tu có dẫn lời của Mai Nghiêu Thần: “Hàm bất tận chi ý, hiện ư ngôn ngoại” (hàm ý vô tận, nằm ở ngoài lời). Phần Thi biện trong Thương Lang thi thoại của Nghiêm Vũ có nói “ngôn hữu tận nhi ý vô cùng” (lời có hết nhưng ý không dứt) tất cả có thể nói là một sự kế tục và phát triển tư tưởng văn nghệ của Đạo gia (Lê Quang Trường, dịch từ “Cổ điển văn học tam bách đề”, Triệu Phác Sơ biên soạn, Thượng Hải Cổ Tịch xuất bản xã, in lần thứ 7, năm 1999).
“Học ăn, học nói, học gói, học mở” cũng khó thật. Vì thế mới gặp những chuyện tức cười.
Trên Đặc San Hội Cựu SVSQTB/Thủ Đức Sacramento, trang 77, trong bài “Mười năm quên hót”, tác giả Lưu Trần Nguyễn “hót”: “Tôi đã 26 rồi còn gì. Một chiếc zip (sic) màu xanh da trời ư? Lại càng không hợp“. Tác giả “dịch” từ tiếng Pháp (jupe là cái váy) sang tiếng Anh (zip là cái khóa kéo, ta vẫn gọi là cái phẹc-mơ-tuya) thành tiếng Việt. “Mặc” một cái phẹc-mơ-tuya màu gì thì cũng không tài nào hợp được và cũng chẳng che được bao nhiêu.
Tác giả Lâm Bình trong bài “Diva Trần Thu Hà và những mảnh ghép đời thường” trên Land Digest số 144, July 1, 2011, trang 47, viết, “là tuýp người mạnh mẽ, cá tính, trong tình yêu, có một dạo Hà Trần chỉ thích ‘đi săn’ chứ không thích thành kẻ ‘bị săn đuổi’”. Dĩ nhiên Hà Trần không phải là tuýp (tube = ống) thuốc đánh răng mà là “típ” (type = loại) ngổ ngáo.
Tác giả Mai Loan trên tờ The Little Saigon News of Seattle, số ra ngày 28.5.2010, trang 89, trong bài “Khi nhà báo ‘ngoại quốc’ nhập cuộc”, viết: “Điều đáng nói là bức thư này cũng được closed copy (cc), tức là đồng kính gửi bản sao đến nhiều nơi khác“. Tác giả đã cẩn thận thêm “cc” sau chữ “closed copy” lại còn “tức là” nữa. Đã “closed” là kín thì làm sao có thể “tức là” gửi đến nhiều nơi khác? Chỉ việc “giải mã” chữ viết tắt “cc” là “carbon copy” (bản giấy than) hoặc copie conforme (bản sao y bản chính) là câu văn hết vẻ “khoa học huyền bí” ngay.
Trên Saigon Nhỏ, ấn bản Orange Cty số 1321 – Los Angeles số 1970 ngày 18.11.2011, tác giả Phạm Hồng Ân, trong bài “Về Moonglow Park” trang A18, viết, “Tôi thích nhất cái carpot rộng rãi chứa đến 3 xe“. Tôi không hiểu từ ngữ “carpot” “có họ” với tiếng Pháp hay tiếng Anh vì cả hai thứ tiếng này đều không có từ ngữ ấy. Nếu “có họ” với tiếng Pháp thì chữ gần nhất là “capote” (nói rõ hơn là “capote anglaise”) chỉ cái bao cao su dùng để bảo vệ “của qúy” khi giao hợp. Nhưng dù cỡ lớn đến mấy cũng không thể chứa nổi 1 cái xe, nói gì đến 3 cái. Vậy thì chắc là “họ hàng” với tiếng Anh và chữ gần nhất là “carport”. Dù sao nếu cứ viết đại là cái mái hiên để xe ôtô có phải đỡ rắc rối không?
Tiện đây xin kể lại chuyện Nguyễn Tuân (không phải Nguyễn Tuân “Vang bóng một thời”) đi xin capote để thấy một mảnh sinh hoạt của các nhà văn dưới thời Hồ Chiếu Manh. Chuyện do Phùng Quán (1932- 1995) kể trong cuốn “Ba phút sự thật”, nxb Văn nghệ, tp HCM, 2006:
“Lúc sắp ra về, Tuân chợt hỏi tôi, giọng hơi ngập ngừng: – Cậu có đồng tiền vàng không, cho mình một đồng… Tôi ngạc nhiên: – Đồng tiền vàng? Cậu làm như mình là tay sưu tập tiền cổ không bằng? Tuân đỏ mặt: – Không phải. Nó là… cái ấy ấy mà… Tôi chợt hiểu ra, bật cười. Cái ấy, là cái bao cao su của Tiệp Khắc sản xuất. Mỗi cái được đựng trong cái hộp nhỏ, tròn và dẹt, in hình đồng tiền vàng cổ trên giấy kim. Ngày đó, “đồng tiền vàng” là loại hàng cung cấp đặc biệt. Muốn mua nó phải có giấy của Công đoàn cơ quan, hoặc của chi hội phụ nữ sở tại chứng nhận: người mua đã có vợ, mua để dùng cho sự sinh đẻ có kế hoạch. Nơi bán là các cửa hàng dược phẩm quốc doanh. Số lượng mua cũng rất hạn chế, để tránh nạn đầu cơ tích trữ. Trẻ con thỉnh thoảng nhặt được một hai chiếc của người lớn dùng rồi vứt đi, thì lấy làm thích thú lắm. Chúng thổi to lên, làm bong bóng bay… Tôi nói: Rất tiếc, mình lại không có… Mình có thuộc biên chế cơ quan nào đâu mà được công đoàn giới thiệu cho mua? Nhưng mình biết ở cơ quan cậu có thằng H. lúc nào trong túi cũng có “đồng tiền vàng”. Cậu cứ hỏi xin hắn, thế nào cũng có… H. rút cái ví ở túi quần sau, mở ra lấy một “đồng tiền vàng” mới toe đưa cho Tuân: – Trước khi dùng, cậu nhớ K.T (kiểm tra) cẩn thận, H. dặn, không lỡ nó thủng thì bỏ mẹ… Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Tuân Nguyễn bị bắt… Sau lệnh bắt, người ta yêu cầu Tuân bỏ hết đồ đạc mang theo trong người, kể cả kính cận để lập biên bản. Về sau này, Tuân kể lại cho tôi nghe giây phút nhớ đời đó: – Như cái máy, mình móc hết túi áo túi quần, bỏ đồ đạc lên mặt bàn. Nhưng khi bỏ cái “đồng tiền vàng” lên mặt bàn, mình bỗng tỉnh trí lại. Chính nỗi hổ thẹn đã làm cho mình tinh trí… Và sau đó là thời gian đi tù chín năm bảy tháng“.
Dưới chế độ XHCN mua “đồng tiền vàng” thì khó, vào tù thì dễ, lại tù lâu nữa.
Tác giả Quách Tố Vương trong bài “Một trà, một rượu, một đàn bà”, một hơi đổi tên đến hai địa danh của Pháp: “Ai cũng biết Champange là loại rượu sủi bọt… Napoléon, Hoàng đế nước Pháp đã nói một câu để đời về rượu Champange: – Khi thắng trận ta uống Champange để mừng chiến thắng. Khi bại trận ta càng cần phải uống Champange để giải sầu. Nho để làm rượu Champange phải là loại Chardonnay (chát trắng) và loại Pinot noir (chát đỏ) của vùng Bourgonge mới số dzách”.
Napoléon lúc nào cũng uống “Champange” chứ không chịu uống Champagne lại còn đòi uống Champange làm bằng nho vùng “Bourgonge”, chê nho vùng Bourgogne, thì thua là phải. Nhưng thôi, xí xóa cho tác giả Quách Tố Vương, vì ông có công đóng góp bài “Gia tài của Bác” đọc đã lắm.
Ta nói tiếng Tây, tiếng Mỹ không đúng cũng “thông cảm” được, nhưng Mỹ nói tiếng Mỹ còn sai, nhất là Mỹ này không phải là Mỹ đầu đường xó chợ mà là phó tổng thống Joe Biden.
Ngày 28.3.2012, ông đến Davenport, tb Iowa khoe thành tích của hành pháp, khoác lác nên đã gây tranh cãi, tệ nhất là khi ông muốn tán dương bà tiến sĩ Theresa Paper, chủ tịch Scott Community College, “So let me say it again: Thank you, Terry, and thank you, Dr. Pepper, and thank you, Chancellor — Dr. Paper — and thank you, Chancellor, for this partnership of yours. You are one of the reasons why — you’re literally one of the reasons why American companies are now insourcing instead of outsourcing”.
Ăn nói lắp bắp chẳng ra làm sao cả, nhưng tài thật, biến giấy (Paper) thành ớt (Pepper) như làm trò qủy thuật thì outsourcing thành insourcing mấy hồi.
Ta nói tiếng ta cũng có khi loạng quạng. Trên “báo nhà”, Người Dân số 240, tác giả Trần Bảo Quốc, trong bài “Lũ Viêt gian nô lệ”, viết ở cuối phần chú thích, cuối trang 20: “cộng sản là thu tóm tài sản (property confiscation)“. Nếu đừng”phụ đề” tiếng Anh thì không có vấn đề gì, nhưng mấy chữ này dịch sát nghĩa là “tịch thu tài sản” chứ không phải là “thu tóm tài sản”.
Trên Người Dân số 241, trang 20, tác giả Đại Dương trong bài “Công nợ: Hậu quả của chính nghĩa xã hội”, đã dùng từ ngữ “công nợ” và “phụ đề” là “public debt” e rằng đó là từ ngữ lai, “công” tiếng Tàu, “nợ” tiếng ta. Công nợ như thường dùng là nợ nần, như Tú Xương khoe, “Cho hay công nợ âu là thế, mà vẫn phong lưu suốt một đời“. Để dịch từ ngữ “public debt” ra tiếng Việt thì có lẽ “nợ công” đúng hơn, còn nếu muốn dùng từ ngữ Hán-Việt thì phài là “công trái” (dette publique) hay “công thải” (emprunt national). Về sau thấy bình luận gia Đại Dương không dùng từ ngữ “công nợ” nữa. Cũng trong bài này, trang 21, tác giả Đại Dương viết, “Obama đã mướn thêm 300,000 công chức, bổ nhiệm nhiều Đặc sứ, Sa hoàng (Czar) để báo cáo trực tiếp với Tổng thống…” Thực tình, tôi không hiểu làm sao Obama, dù là TT Hoa Kỳ, lại có thể bổ nhiệm được nhiều Sa hoàng? Vả lại có bao nhiêu sa hoàng Lê-nin giết sạch rồi còn đâu. Tôi vẫn thán phục tác giả Đại Dương sáng tác rất nhiều, không những cho Người Dân mà còn ở nhiều báo khác, lại còn hàng ngày bình luận thời cuộc trên đài SBTN, nên rất bận, chuyện sơ sót là thường, chỉ nêu ra đây cho vui thôi.
Tác giả Nguyễn Hữu Huấn, trong bài “Cái Duyên Nam Bắc” trên VietMagazineUSA số 28 tháng 3.2010, trg 53, xổ nho: “Thiên bất dung nhan“. Không biết Trời bị “mất mặt” hồi nào để bây giờ kẻ gian vẫn được dung dưỡng.
Tác giả Lê Bá Kiên, trong bài “Chiến dịch nhà thờ lớn” trên báo Thằng Mõ số 1040 ngày 9-15.7.2010, trg 178, cũng xổ nho, “giới chức Pháp theo dõi sát nhất cử, nhất tiện của Giáo hội Chính thống Nga trên đất Pháp“. Pháp chỉ theo dõi có 1 tiện, còn mấy tiện nữa thì sao? Thà cứ theo dõi “nhất cử nhất động” thì “tiện” hơn.
SV Lê Trung Thành có lẽ quên tiếng Việt, viết chêm tiếng Mỹ trong bài “Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập tự do hạnh phúc” trên VietMagazineUSA số 28 tháng 3.2010: “để rồi hàng name vào cái ngày…” (trang 5) và “mong sao con cháu thế hệ sau sẽ khắc coat ghi tâm” (trg 6). Con cháu xin came ơn ông Thank.
Hải Vân News số 952 June 22, 2011 – June 28, 2011, trang 17 có đăng Phân Ưu: “Hay tin buồn cụ bà NĐH nhũ danh PPY đã từ trần ngày 15 tháng 6 năm 2011 tại Sacramento, California, hưởng thọ 95 tuổi, chúng tôi thành kính chia buồn cùng cụ NĐH và toàn thể tang quyến, xin nguyện cầu hương linh cụ ông sớm nhập cõi Niết Bàn“, dưới ký tên trên 70 vị có hơn chục bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ và cả cô Cindy Nguyễn và dân biểu Trần Thái Văn. Xin cụ ông đánh cho chữ đại xá.
Người ta thường bảo “tam sao thất bản”, nhưng cũng có khi nhất sao đã lộn tùng phèo. Thí dụ trên Thời Báo số 5233 ngày 16 và 17.1.2010, trang 16, có bài “Trần Bạch Đằng – Người cộng sản đa tài, nhưng bất đắc chí cho đến khi nhắm mắt lìa đời!” (Kỳ 1) của tác giả Lê Tùng Minh: “Năm 17 tuổi (1943) Trương gia Triều [Trần Bạch Đằng] vừa tốt nghiệp ban Thành Chung (Diplôme), thì không học tiếp Ban Tú Tài (Brevé) (sic) mà đi tham gia Phong Trào Thanh Niên Giải Phóng…”. Thấy cái hệ thống giáo dục này hơi lạ, tôi truy nguyên thì tìm được nguyên bản của chính tác giả phổ biến tại Đông Bắc Mỹ ngày 15 tháng 6 năm 2007, viết: “Năm 17 tuổi (1943) Trương Gia Triều vừa tốt nghiệp Ban Thành Chung (Diplôme), thì không học tiếp Ban Tú Tài (Baccalauréat) mà đi tham gia Phong Trào Thanh Niên Giải Phóng…”.
Có thế chứ!
Cuốn “Mao, the Unknown Story” của vợ chồng Jung Chang (Trương Nhung) và Jon Halliday là một tài liệu rất có giá trị đối với những ai quan tâm đến nước Tàu thời đại Mao, được xuất bản và tái bản nhiều lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có bản Việt dịch “Mao Trạch Đông, tội ác diệt chủng” của dịch giả Từ Thứ, phổ biến trên Internet (PRC Ebook : td_congly) “lược dịch” ấn bản của nxb Random House and Knopf, có đoạn viết:
Trong cuộc chỉnh huấn ở Diên an có hai người đàn bà. Một là Diệp Quần, vợ Lâm Bưu và một là Giang Thanh, vợ Mao. Một ngày tháng 3 năm 1943, trong khi Lâm Bưu đang ở Trùng khánh, Diệp Quần bị cột vào ngựa và cho ngựa kéo. Khi về tới, Lâm Bưu đến gặp mặt Mao và chửi thẳng vào mặt Mao: “Ð.M. mày. Chúng tao chiến đấu ở mặt trận để ở nhà mày đối xử với vợ tao như vậy hả?” Mao phải trả tự do cho Diệp Quần, và còn cho bà trắng án. Giang Thanh, ngược lại, không được Mao che chở như vậy. Bà cũng phải bị kiểm thảo và bị đấu tố, dù không nặng nề như những người khác, thế nhưng cũng đủ để khiến bà sợ Mao tới suốt đời (Chương 25).
Thấy Lâm Bưu táo bạo đến thế cũng lạ, tôi tìm hiểu thì gặp được cuốn sách trên nhưng do Jonathan Cape, London xuất bản năm 2005, ở trang 276, có đoạn văn có thể đối chiếu với đoạn trích dịch trên đây:
Two women who were to become extremely powerful in the future entered the realm of persecution now: Mao’s wife and the wife of the man who was to be his deputy in the Cultural Revolution, Lin Biao. Both women had come to Yenan through Party organizations that were being condemned as spy centers. One day in 1943, while Lin Biao was in Chongqing, his wife, Ye Qun, was tied onto a horse and dragged off into detention. Luckily for her, Lin Biao was someone who enjoyed a most uncommon crony relationship with Mao. When Lin returned to Yenan in July, he marched into the Party office dealing with his wife’s case. ‘Fuck you!’ he shouted, throwing his whip on the desk. ‘We fight wars at the front, and you screw my wife in the rear!’ His wife was released, and given the all-clear. This brief experience of intense fear was the beginning of the sclerosis of the heart for Ye Qun. When she rose with her husband in the Cultural Revolution, she became a victimiser.
The later notorious Mme Mao, Jiang Qing, also learned terror during the Yenan campaign. She had been arrested by the Nationalists years before, and had got out of prison by recanting, and entertaining her jailers – and, according to Kang Sheng (later), sleeping with them… Above all, Jiang Qing was afraid of her husband…
Xin “tạm dịch”:
Hai phụ nữ sẽ thành cực kỳ quyền thế trong tương lai bây giờ bước vào lãnh vực đàn áp: vợ Mao và vợ người sẽ thành phó của ông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa, Lâm Bưu. Cả hai người đàn bà đến Diên An qua các tổ chức Đảng bị tố cáo là những trung tâm do thám. Một ngày trong năm 1943, trong khi Lâm Bưu ở Trùng Khánh, vợ ông, Diệp Quần, bị buộc vào một con ngựa và kéo lê vào tù. May cho bà, Lâm Bưu là người được Mao coi là bạn chí thân. Khi Lâm về đến Diên An vào tháng 7, ông đi thẳng vào trụ sở Đảng để giải quyết trường hợp của vợ ông. “D.M.!” ông quát lên, ném cái roi ngựa lên bàn. “Chúng tao chiến đấu ngoài mặt trận và chúng mày đ. vợ tao đằng đít”. Vợ ông được thả và miễn tố. Kinh nghiệm cực kỳ kinh hoàng ngắn ngủi này là khởi sự của chứng tim sơ cứng của Diệp Quân. Khi bà nổi lên cùng với chồng trong Cách Mạng Văn Hóa, bà thành người hiếp bách kẻ khác.
Giang Thanh, sau thành Mao phu nhân khét tiếng cũng học khủng bố trong chiến dịch Diên An. Bà bị Quốc Dân Đảng bắt nhiều năm trước và đã ra khỏi tù bằng cách phản cung và đãi ngộ các cai tù – và theo lời Khang Sinh (sau này) ngủ với chúng… Trên hết, Giang Thanh sợ chồng…
Không biết hai tác giả Jung Chang và Jon Hallida dịch từ chữ Tàu nào ra thành “Fuck you!” Có lẽ từ “tục” ngữ Tàu “Tửu nị hà má lố” nên dịch giả mới dịch ra là “Ð.M. mày”. Đấy là đoán mò thôi chứ sự thật thế nào thì làm sao mà biết được. Vốn dốt “tục ngữ” Anh, để chắc ăn, tôi lại phải tra tự điển Anh-Việt của Hà Nội xb năm 2007 thì tìm được giải nghĩa “cụ thể” như sau: Fuck = mẹ kiếp!; Fuck you – I’m leaving. Đ. mẹ mày – tao đi đây. Thế thì dịch giả Từ Thứ dịch sát nghĩa. Nhưng tướng Lâm Bưu — thô lỗ cục cằn như bất kỳ tướng Tàu đỏ nào — cũng chỉ văng “tiếng Đức” bâng quơ thế thôi chứ – theo nguyên bản tiếng Anh – đâu có chỉ tay vào mặt Mao mà chửi và trong trích đoạn trên đây, Mao cũng không hề được đề cập đến, ngoài việc Giang Thanh là vợ Mao.
Theo nguyên bản tiếng Anh thì Lâm Bưu còn nói thêm, “We fight wars at the front, and you screw my wife in the rear!’” và dịch giả Từ Thứ dịch là “Chúng tao chiến đấu ở mặt trận để ở nhà mày đối xử với vợ tao như vậy hả?” Lần này thì ông dịch quá “lịch sự”. Tôi lại phải tra tự điển và tìm được, trong nhiều nghĩa, “to screw” có nghĩa là “(hai người) làm tình, (đặc biệt đàn ông) làm tình với ai” và “rear” có nghĩa là “khu, đít, mông, bàn tọa”. Vậy dịch sát nghĩa là “chúng mày đ… vợ tao đằng đít” (xin lỗi qúy độc giả vì lời lẽ thô tục) không biết có đúng với ý tác giả không, nhưng có lẽ dịch như thế mới lột được hết nét văn hóa tướng Tàu đỏ. Cũng có thể là các tác giả dùng chữ “rear” để đối với chữ “front”, nghĩa là “Chúng tao chiến đấu ngoài mặt trận và chúng mày đ… vợ tao ở hậu phương“.
Dịch bao giờ cũng gặp nhiều cái lôi thôi nên các dịch giả thuờng thận trọng nhận là chỉ “phóng dịch”, “lược dịch” hay “tạm dịch”… Nhưng có lẽ “mắc dịch” đúng với cái thân phận người dịch nhất. Đang dịch có người hỏi làm gì thế, trả lời “Tôi đang mắc dịch” đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Đã mang cái nghiệp “mắc dịch” vào thân thì có bị ca cẩm cũng chẳng nên buồn làm gì.